Home » Unlabelled » NGUY CƠ XÉT LẠI LỊCH SỬ QUA VIỆC TÔN VINH ĐẶT TÊN ĐƯỜNG CHO NHỮNG KẺ TỘI ĐỒ DÂN TỘCNGUY CƠ XÉT LẠI LỊCH SỬ QUA VIỆC TÔN VINH ĐẶT TÊN ĐƯỜNG CHO NHỮNG KẺ TỘI ĐỒ DÂN TỘC
Một số anh chị hỏi tôi sao thấy anh kiến nghị không đặt tên đường cho các nhân vật lịch sử còn tranh cãi mà không thấy anh viết bài nào?
Về việc này, tôi có hơn chục bài viết phê phán, phản biện. Nay chọn đăng lại một số bài vào cùng một stt để anh chị em nào quan tâm thao khảo.
Bài 1:
ÂM MƯU VIẾT LẠI LỊCH SỬ
Việc “Xét lại lịch sử, viết lại lịch sử” không chỉ ở Việt Nam mà đang diễn ra nhiều nước trên thế giới. Đó là một phần trong chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch nhằm gây rối loạn xã hội, tiến tới bạo loạn, lật đổ chế độ. Sự tan rã của Nhà nước Liên bang Xô viết và chế độ XHCN ở Đông Âu cũng từ việc “xét lại lịch sử".
Gần đây những kẻ cơ hội chính trị, dân tộc cực đoan, tân phát xít ở một số nước Đông Âu điên cuồng xuyên tạc lịch sử về cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, phủ nhận công lao và sự hi sinh to lớn của Hồng quân Liên Xô đánh bại Đức quốc xã cứu toàn nhân loại khỏi nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa phát xít; chúng đập phá tượng đài Lê Nin và Hồng quân Liên Xô; yêu cầu di dời hài cốt các chiến sĩ Hồng quân Liên Xô thậm chí coi họ là “tội phạm chiến tranh” đòi đưa ra xét xử. Mầm mống các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” đang có nguy cơ lan rộng từ Châu Âu sang Châu Mỹ La tinh, Châu Á trong đó có Việt Nam.
Những năm gần đây ở Việt Nam, các tổ chức nước ngoài (NGO) tăng cường tài trợ kinh phí cho các cuộc “hội thảo khoa học”, “Nghiên cứu lịch sử”, “Tự do học thuật” với âm mưu thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc nhằm tạo ra trào lưu xét lại lịch sử, xét lại cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; phục dựng, ca ngợi, đặt tên đường cho những kẻ tay sai bán nước một cách rầm rộ, công khai trên các phương tiện truyền thông và không gian mạng; gây hoài nghi về lịch sử dân tộc, tạo rối loạn xã hội từ đó hiện thực hóa mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.
Dễ dàng nhận thấy mưu đồ “xét lại lịch sử", "viết lại lịch sử" gần đây được chúng thực hiện ráo riết thông qua các bài viết trên một số tờ báo, trên mạng xã hội, trên giảng đường đến những hoạt động trắng trợn ngoài xã hội với những chiêu trò, biến tướng khác nhau. Một số tờ báo, tạp chí trong hệ thống chính trị của Đảng vô tình tiếp tay, làm “cái cớ” để những kẻ cơ hội chính trị làm sai lệch một số vấn đề lịch sử; gây bức xúc, căm phẫn trong dư luận xã hội. Chúng mượn danh “khoa học lịch sử” một cách đê hèn, sống sượng, xuyên tạc, bóp méo ý nghĩa, vai trò của sự kiện hoặc nhân vật lịch sử, phủ nhận lịch sử làm lung lay niềm tin của nhân dân nhất là thế hệ trẻ đối với Đảng, với chế độ; từ đó lôi kéo, xúi giục, cổ súy cho tư tưởng đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến, tự chuyển hoá” tại Việt Nam.
Chúng ta cần tỉnh táo nhận biết đúng sai trước hành vi “xét lại lịch sử”, “viết lại lịch sử” của những kẻ bất mãn, cơ hội chính trị và các đối tượng thù địch. Các cơ quan truyền thông, tuyên giáo, dân vận của Đảng phải làm tốt vai trò trách nhiệm của mình trong việc định hướng dư luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các cơ quan bảo vệ pháp luật phải kiên quyết xử lý các tổ chức, cá nhân có hành vi lợi dụng "xét lại lịch sử" để kích động hận thù dân tộc, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Bài 2:
HẬU QUẢ CỦA TRIỀU ĐẠI NGUYỄN ÁNH
1. Nguyễn Ánh cầu Xiêm sang đánh nhà Tây Sơn, thế nào là đạo lý?
Nhà Tây Sơn là triều đại do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ (Tây Sơn tam kiệt) thành lập (tồn tại từ năm 1778 - 1802). Họ đã lãnh đạo phong trào khởi nghĩa Tây Sơn lật đổ các tập đoàn phong kiến Trịnh-Nguyễn, thống nhất đất nước và đánh bại các cuộc xâm lược của quân Xiêm (1785) và quân Thanh (1789). Nguyễn Huệ sau khi được anh trai nhường ngôi, trở thành vua Quang Trung, vị vua nổi tiếng nhất của triều Tây Sơn với những chiến công hiển hách và các cải cách quan trọng về kinh tế, văn hóa, giáo dục. Triều Tây Sơn đã chấm dứt thời kỳ nội chiến kéo dài, xây dựng một quốc gia thống nhất, để lại những dấu ấn quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Vua Nguyễn Huệ được Bộ Văn hoá, Thể thao - Du lịch công bố là 1 trong 14 vị anh hùng dân tộc Việt Nam. Vậy Nguyễn Ánh cầu viện, rước Xiêm vào nước mình đánh nhà Tây Sơn được nhìn nhận thế nào về mặt đạo lý?
2. Rước Pháp vào đất nước mình, đúng hay sai?
Pháp là nước thực dân luôn tìm mọi cách thiết lập, cai trị các tiểu quốc làm thuộc địa cho mình từ thế kỷ XVI đến nay để bóc lột tài nguyên, nhân công và thị trường cho các nhu cầu kinh tế của Pháp. Với chiêu bài “sứ mệnh khai hóa văn minh" để biện minh cho sự cai trị và đồng hóa các dân tộc bản địa. Nguyễn Ánh cầu viện Thực dân Pháp vô nước mình chính là hành động bán nước, mở đường cho Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam.
3. Hậu quả “Rước voi về giày mả tổ” của Nguyễn Ánh
100 năm đô hộ của Thực dân Pháp đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở Việt Nam.
Hậu quả về kinh tế
Pháp đã khai thác tài nguyên thiên nhiên và bóc lột sức lao động của người dân Việt Nam đến cùng cực để phục vụ cho sự phát triển kinh tế của Pháp. Họ xây dựng một số công trình đường sắt, đường bộ chủ yếu phục vụ cho mục đích khai thác và quân sự.
Hậu quả về chính trị
Pháp chia Việt Nam thành ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) để dễ dàng cai trị. Với chính sách "chia để trị", Pháp chia rẽ các tôn giáo, dân tộc và tầng lớp trong xã hội Việt Nam. Quyền tự chủ về chính trị của Việt Nam đã bị Pháp tước đoạt.
Hậu quả về văn hoá xã hội
Thực dân Pháp đưa văn hóa Pháp vào Việt Nam để xóa bỏ văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam. Pháp thiết lập hệ thống giáo dục riêng để đào tạo ra những người phục vụ cho bộ máy cai trị của mình; chính sách bóc lột đã gây nên nạn đói nghèo, bệnh tật và tệ nạn xã hội.
Tội ác của Thực dân Pháp đã khơi dậy lòng căm thù và tinh thần đấu tranh giành độc lập của người dân Việt Nam, nhiều phong trào yêu nước và các cuộc đấu tranh giành độc lập đã bùng nổ dưới sự lãnh đạo của các tổ chức yêu nước với đỉnh cao là Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp chấm dứt chế độ phong kiến, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do, nhân dân từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước và vận mệnh của mình. Cuối cùng là chiến thắng vĩ đại Điên Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" buộc Pháp phải ký Hiệp định Geneva, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến 9 năm, chấm dứt hoàn toàn 100 năm đô hộ của thực dân Pháp trên bán đảo Đông Dương bằng mồ hôi, nước mắt, máu xương của cả một dân tộc.
Tội ác của Nguyễn Ánh và những kẻ tay sai bán nước cho thực dân Pháp trời không dung, đất không tha. Là vết nhơ lịch sử dân tộc không thế lực nào có thể tẩy xoá, gột rửa.
Bài 3:
LỊCH SỬ KHÔNG THỂ BẺ CONG
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam có rất nhiều triều đại được nhân dân ghi ơn nhờ công lao xây dựng, bảo vệ đất nước, đem lại hạnh phúc cho nhân dân nhưng riêng triều đại Gia Long lại là trường hợp đặc biệt gây nhiều tranh cãi. Công của ông không ai có thể phủ nhận nhưng tội ác của ông thì dân tộc và nhân dân không thể nào quên, một vết nhơ của lịch sử.
Khi Nguyễn Ánh còn lang bạt trốn chạy, đất nước đã được Quang Trung Nguyễn Huệ thống nhất sau gần hai 200 năm phân tranh Trịnh – Nguyễn. Lần đầu tiên Đại Việt có một triều đại duy nhất từ Bắc chí Nam, lãnh thổ mở tới mũi Cà Mau. Nguyễn Ánh không phải là người gây dựng cương vực; đúng lúc Quang Trung mất, triều Tây Sơn rối ren, thế lực ngoại bang can thiệp, đó là thiên thời của Nguyễn Ánh. Ông cũng là một vị vua hèn hạ. Khi bị Tây Sơn truy đuổi, Nguyễn Ánh nhiều lần chạy sang Xiêm cầu cứu, rước Xiêm giày xéo tổ quốc mình, sát hại đồng loại mình. Trận Rạch Gầm – Xoài Mút (1785) là minh chứng cho tội lỗi ấy. Không ai có thể biện minh bằng những lý luận thô thiển cho kẻ tự xưng là “vì nước vì dân” mà lại dẫn giặc về giày xéo đất nước, tội ác đó muôn đời không thể gột rửa. Sau khi thua Xiêm, Nguyễn Ánh lại cầu cứu người Pháp giúp đỡ; thông qua Bá Đa Lộc ký hiệp ước Versailles (1787) nhượng đất lấy vũ khí. Đây là hành động mở đường cho Pháp xâm lược, đô hộ Việt Nam suốt 100 năm mà cả dân tộc phải đổ biết bao nhiêu máu xương mới tổng cổ được quân xâm lược Pháp ra khỏi bờ cõi.
Người đời nguyền rủa Nguyễn Ánh bởi những đòn trả thù hèn hạ. Ông củng cố triều đại bằng quyền lực. Việc xử tử họ hàng, tướng lĩnh, đào mộ vua, nghiền xương tro là những hành động vô nhân tính, lấy oán thù thay cho hòa giải, củng cố ngai vàng bằng máu xương của đồng loại. Nguyễn Ánh không phải là một vị vua minh quân, nghi kỵ trí thức, phụ thuộc các giáo sĩ phương Tây để họ hiện diện sâu rộng mọi lĩnh vực của đất nước, đưa đất nước rơi vào ách đô hộ của Thực dân Pháp từ đó. Đó chính là bi kịch của một triều đại được lập nên từ sự hèn hạ, lịch sử không bao giờ quên, nhân dân không thể tha thứ.
Ngai vàng có thể giúp Nguyễn Ánh thành Hoàng Đế nhưng lịch sử và nhân dân không bao giờ phong thánh cho kẻ phản quốc. Tôn vinh cho một bậc vĩ nhân hay đế vương từ chính lòng dân. Triều đại Gia Long – Nguyễn Ánh và những cận thận như Trương Vĩnh Ký, Lê Văn Duyệt ai đó có thể dựng lại bằng sắc phong, tượng đài hay lễ kỷ niệm nhưng lòng dân thì không thể ép buộc. Lịch sử không thể bẻ cong, ai là anh hùng? Ai là kẻ tội đồ của dân tộc Việt Nam lịch sử đã khắc ghi, không ai có thể đổi trắng, thay đen.
Bài 4:
LÊ VĂN DUYỆT CÓ XỨNG ĐÁNG TÔN VINH - ĐẶT TÊN ĐƯỜNG
1. Lê Văn Duyệt là ai?
Lê Văn Duyệt, còn gọi là Tả Quân Duyệt, sinh năm 1763 ( hoặc 1764) tại vàm Trà Lọt, thuộc làng Hòa Khánh, huyện Kiến Phong, tỉnh Định Tường, sau này là xã Hòa Khánh, huyện Cái Bè, tỉnh Đồng Tháp). Ông nội của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Hiếu từ làng Bồ Đề, huyện Chương Nghĩa (Mộ Đức), tỉnh Quảng Ngãi vào sinh sống. Sau khi Ông Lê Văn Hiếu qua đời cha ông là Lê Văn Toại rời vùng Trà Lọt đến ngụ tại vùng Rạch Gầm, làng Long Hưng, huyện Kiến Hưng, tỉnh Định Tường, về sau gọi là xã Long Hưng thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (Đồng Tháp). Lê Văn Toại có tất cả bốn người con trai, Lê Văn Duyệt là con trưởng. Ông là một trong các chỉ huy chính của Nguyễn Ánh trong cuộc chiến với Tây Sơn. Khi chiến tranh kết thúc và nhà Nguyễn được thành lập, ông trở thành một đại thần, phục vụ hai triều vua Gia Long (tức Nguyễn Ánh) và Minh Mạng. Ông là nhân vật gây tranh cãi trong dư luận xã hội về công và tội với dân tộc, đặc biệt là khi một số địa phương vinh danh Ông là anh hùng dân tộc, đặt tên đường Lê Văn Duyệt.
2. Lê Văn Duyệt có công gì?
Theo một số tài liệu, Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định thành cai quản 5 trấn là Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường và An Giang) lần thứ nhất từ năm 1813 đến 1816 và lần thứ hai từ năm 1820 đến khi qua đời (1832). Ông có công lao đối với Sài Gòn - Gia Định khi dâng sớ đề xuất vua Minh Mạng cho đào kênh Vĩnh Tế để trị thủy; cho đắp đường, đào kênh củng cố thành lũy. Tuy nhiên, nếu cho rằng Lê Văn Duyệt có công mở mang bờ cõi là trái với sự thật lịch sử. Ông chỉ có công góp công khai phá ruộng đất, phát triển kinh tế vùng đất Nam Kỳ.
3. Lê Văn Duyệt - tay sai ngoại bang
Trước cảnh nước mất nhà tan, Lê Văn Duyệt đã trợ lý đắc lực cho Nguyễn Ánh, cầu viện ngoại bang vô xâm lược Việt Nam tiêu diệt nhà anh em Tây Sơn, một đội quân “Anh hùng áo vải” của Quang Trung-Nguyễn Huệ. Sau khi bị quân Tây Sơn đánh bại, Nguyễn Ánh chạy sang thần phục Xiêm La (1783-1785), Lê Văn Duyệt hai lần cùng Nguyễn Ánh sang Xiêm, cầu Xiêm mang quân sang đánh Tây Sơn. Hành động của Lê Văn Duyệt sử sách Việt coi là “Rước voi về giày mả tổ”, là hành động phản bội Tổ quốc, rước quân xâm lược ngoại bang vô tàn sát phong trào kháng chiến, giết hại đồng bào mình.
4. Tội của Lê Văn Duyệt bị đào mồ, cuốc mả
Sau khi thắng Tây Sơn, Lê Văn Duyệt trợ thủ đắc lực cho Nguyễn Ánh đàn áp nhân dân dám chống lại chính sách lao dịch, thuế khoá nặng nề của Gia Long. Khi Gia Long qua đời, Lê Văn Duyệt bất phục vua Minh Mạng đi ngược chính sách triều đình, chủ trương thân thiện với người Pháp cổ súy cho việc truyền bá đạo Công giáo, với ý đồ ly khai khỏi Đại Nam. Sau khi qua đời, Lê Văn Duyệt bị vua Minh Mạng ra lệnh đào mồ cuốc mả, san bằng mặt đất và dựng bia đá có khắc chữ "Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ" để trừng phạt. Việc này xảy ra vào năm 1838 và sau đó lăng mộ của ông bị xiềng xích trong khoảng 6 năm cho đến khi vua Thiệu Trị ban lệnh phá bỏ.
Lê Văn Duyệt kẻ tay sai cho ngoại bang, phản bội Tổ quốc, sát hại đồng loại mình thì không thể vinh danh là “Anh hùng dân tộc”; Không xứng đáng đặt tên đường.
Bài 5:
TRƯƠNG VĨNH KÝ, ANH HÙNG DÂN TỘC HAY KẺ TỘI ĐỒ
1. Trương Vĩnh Ký là ai?
Trương Vĩnh Ký sinh ngày 06/12/1837 tại ấp Cái Mơn, xã Vĩnh Thành, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long (cũ). Là con thứ 3 sau người chị đầu mất sớm và anh cả là Trương Vĩnh Sử) của Lãnh binh Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu. Ông là cháu 5 đời của Trương Đạt, gốc làng Trường Dục, xã Hiền Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Ông làm thông dịch viên cho Pháp, phục vụ đắc lực cho lợi ích của Pháp nên được chính phủ Pháp ban tặng huy chương Đệ Ngũ Đẳng Bắc Đẩu Bội Tinh. Lương của Trương Vĩnh Ký đứng hàng thứ ba sau hai viên chức cao cấp nhất người Pháp. Đây là nhân vật gây tranh cãi công và tội trong dư luận xã hội nhất là sau khi ông được một số địa phương đặt tên đường.
2. Không thể xuyên tạc lịch sử
Năm 2015, Trương Vĩnh Ký được một Quỹ văn hóa NGOs tôn vinh “Nhân vật kiệt xuất có công đối với văn hóa Việt Nam”, khiến cho nhiều người dân Việt Nam yêu nước phẫn nộ. Một số bài báo ca ngợi Trương Vĩnh Ký là “Người thầy, nhà văn hóa lớn của dân tộc”. Đây là hành động xuyên tạc lịch sử. Sự phẫn nộ của dân chúng đến đỉnh điểm khi đầu năm 2024, VTV chiếu phim hoạt hình “Khát vọng non sông” ca ngợi Trương Vĩnh Ký như một vĩ nhân kiệt xuất, có công trạng rất lớn đối với dân tộc. Bảo tàng báo chí Việt Nam tổ chức Toạ đàm về “Nhà báo Trương Vĩnh Ký”. Từ một tên “Việt gian cõng rắn cắn gà nhà”, Trương Vĩnh Ký trở thành vĩ nhân của dân tộc. Một sự trơ trẽn không thể chấp nhận.
3. Trương Vĩnh Ký chối bỏ cội nguồn, làm tay sai cho Pháp
Trương Vĩnh Ký là người có tài nhưng phục vụ cho quân xâm lược ngoại bang dày xéo tổ quốc mình, bóc lột đồng bào mình. Trương Vĩnh Ký chưa bao giờ tự xem mình là người Việt, tự xem là bầy tôi trung thành của Pháp, tay sai cho Pháp, phản quốc, hại dân. Trương Vĩnh Ký viết thư gửi Toàn quyền Pháp: “Lòng tôi luôn thuộc về nước Pháp và những công việc nhỏ mọn của tôi cũng thuộc về nước Pháp”, “Tôi càng tỏ ra biết ơn nước Cộng hòa Pháp không những công nhận tôi là đứa con nuôi lại cho tôi nhiều vinh dự, nhất là đã tin cẩn tôi lắm lắm… Nước Pháp mà tôi phụng sự và tôi hoàn toàn thuộc về nó”. Một kẻ không trung với Nước thì sao có thể tôn vinh ông ta là anh hùng dân tộc? Một kẻ chối bỏ cội nguồn dân tộc, cam tâm làm tay sai cho Pháp, kẻ đã đô hộ xâm lược Việt Nam suốt 100 năm thì sao gọi là yêu nước?
4. Trương Vĩnh Ký rước voi về giày mả tổ
Trước cảnh nước mất nhà tan, phong trào chống thực dân Pháp lan rộng, Trương Vĩnh Ký viết thư cầu cứu người Pháp: “Xin đừng chần chừ nữa, xin mở rộng bàn tay giải phóng của Ngài để chấm dứt những nỗi cơ cực của dân tộc chúng tôi”. Trương Vĩnh Ký còn dâng hiến cả đất đai, tài nguyên của dân tộc mình cho ngoại bang: “Xứ sở chẳng thiếu tài nguyên, đất đai mà tôi dám quyết rằng có thể sánh với thổ nhưỡng của nước Pháp, ít ra là đối với Algérie, chất chứa nhiều của cải đủ để làm nên tài sản cho một quốc gia. Đất này tiện lợi cho những vụ trồng trọt các mùa thay đổi khác nhau. Những cuộc thí nghiệm trồng nho và gieo lúa mì cho thấy những kỳ vọng chắc chắn. Tôi từng thấy lúa mì mọc trong đất, cây trông đẹp, bông đầy và lớn hạt. Tôi chưa nói tới ở đây những tài nguyên khoáng chất, người ta bảo là bao la”.
5. Trương Vĩnh Ký - kẻ nội gián
Không những làm thông ngôn, Trương Vĩnh Ký còn làm “tay trong” cho quân xâm lược Pháp để tiêu diệt phong trào Cần Vương: “Tôi cũng đang lo tiếp xúc để cung cấp cho ngài những tin tức chính trị hữu ích. Tôi hết lòng tán đồng dự án hoàn mỹ của ông Pène về công cuộc bình định thi hành bởi những yếu nhân bản xứ và, ở đây, tôi đang bám sát nhà vua cùng Viện cơ mật. Như sứ giả tiên khu của Chúa, tôi tìm cách dọn đường cho ngài” (Trích thư ngày 10/05/1886); Tôi sẽ trấn áp tất cả các hãnh thần và bao vây nhà vua, tôi sẽ kiếm những người thật sự có khả năng cho Viện cơ mật” (thư ngày 17/06/1886). Bằng kiến thức quân sự sở học của mình, Trương Vĩnh Ký đã “cố vấn” cho thực dân Pháp tiêu diệt các phong trào cách mạng Việt Nam; bóc lột, vơ vét của cải của dân tộc Việt Nam: “Hãy nhanh chóng thành lập các đoàn lạp binh và võ trang cho họ; ngài không có điều gì phải quan ngại dù các nhà quân sự đã nói về việc đó, bởi vì, những quân khí do ngài cung cấp, cho mượn hoặc bán, đều thuộc trách nhiệm trực tiếp của nhà vua và chính quyền An Nam. Xứ Trung Kỳ mà ngài vừa ban cho nền tự trị sẽ phải bắt buộc ở dưới sự giám hộ của Người Bảo hộ nó và với hai thế đứng của Pháp tại Bắc và Nam Kỳ những nghĩa cử rồi ra sẽ được củng cố và hiệu nghiệm hơn lên. Tôi hiểu những tình ý thật sự của người An Nam mà tôi dám khẳng định với ngài rằng chính sách ấy là tốt hơn cả, bởi vì, một mặt ngài có cái lợi đem lại cho nước Pháp sự mến mộ và lòng tin tưởng đã bị đánh mất từ bao năm qua, và mặt khác, ngài sẽ tìm thấy những nguồn lợi không kém phần thực tế cho các đồng bang của ngài trong cái xứ Bắc Kỳ giàu có”.
6. Trương Vĩnh Ký coi những người Việt yêu nước chống Pháp là kẻ phiến loạn
Trương Vĩnh Ký cho rằng người Việt không thể chống lại Pháp được mà phải tuân theo họ, nhất là sau khi cuộc nổi dậy của vua Hàm Nghi thất bại; coi những người tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp là "đám phiến loạn". kêu gọi thực dân Pháp đàn áp đồng bào mình: “Bọn phiến loạn không đáng sợ; họ chỉ có những khí giới cổ lổ của chính quyền An Nam và vài võ khí mới mua lại được của bọn buôn lậu Trung Hoa”.
Công luận xin hỏi: “Trương Vĩnh Ký - kẻ bán nước, tay sai cho thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, tội đồ của dân tộc Việt Nam thì sao có thể gọi là anh hùng dân tộc? Làm sao có thể đặt tên đường, tên trường học cho một kẻ phản bội tổ quốc?
Bài 6:
KHI VĂN HOÁ MÉO MÓ, BIẾN DẠNG
Lịch sử đã chứng minh, Văn hóa là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn giúp dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách giữ vững ý chí và lòng tự tôn dân tộc. Việt Nam tồn tại và phát triển được đến ngày hôm nay chính là gìn giữ được bản sắc văn hóa, cốt cách của dân tộc mình. Trong thời đại toàn cầu hoá, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trở thành nhiệm vụ cấp bách. Một dân tộc đánh mất đi văn hóa của mình thì nguy cơ mất chủ quyền là hiện hữu. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nói: “Văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất” .
Một khi Văn hoá dân tộc không còn được coi trọng. Văn hoá xa rời lịch sử, bóp méo lịch sử, xuyên tạc lịch sử thì chúng ta đã đánh mất những giá trị văn hóa truyền thống mà máu xương cha ông ta đã đổ xuống để có được bản sắc văn hoá tốt đẹp của dân tộc suốt mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Bản sắc, cốt cách văn hoá của một dân tộc không thể đánh đồng hào khí, tinh hoa của các bậc vĩ nhân dân tộc với những vết nhơ của những kẻ tội đồ tay sai bán nước; không thể thờ chung các anh hùng dân tộc với những kẻ tội đồ của dân tộc.
Văn hoá là cốt lõi, là linh hồn của một dân tộc, là yếu tố quyết định sự tồn tại của một dân tộc. Nếu bản sắc văn hóa bị méo mó, biến dạng thì dân tộc đó sẽ không còn là chính mình và dần dần bị đồng hóa, dẫn đến sự suy tàn. Đó không phải là lời cảnh tỉnh mà đang là nguy cơ hiện hữu.
Bài 7:
KHI BÁO CHÍ MẤT ĐI TÍNH GIAI CẤP THÌ KHÔNG CÒN LÀ BÁO CHÍ CÁCH MẠNG
Trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, Báo chí cách mạng là một "binh chủng" quan trọng cổ vũ tinh thần yêu nước và ý chí chiến đấu của nhân dân.
Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nói: “Báo chí Cách mạng có vai trò đặc biệt quan trọng trong hành trình vươn mình, phát triển mạnh mẽ của dân tộc. Báo chí là một mặt trận. Cán bộ báo chí là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén. Bài báo là tờ lịch cách mạng và ngòi bút là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính, trừ tà". Trong suốt những năm qua, Báo chí cách mạng luôn đóng vai trò quan trọng, là vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, cung cấp thông tin, định hướng dư luận và xây dựng nền tảng tư tưởng vững chắc; phản ánh ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, giám sát xã hội và đấu tranh với các quan điểm sai trái, tiêu cực; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Chủ nghĩa Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên gần đây, một số tờ báo không làm tốt sứ mệnh đó, đi ngược lại lợi ích dân tộc, xa rời lý tưởng cách mạng, mất đi tính giai cấp. Những báo đó không còn là báo chí cách mạng./.
PHAN TRUNG CAN



Comments[ 0 ]
Post a Comment